:::: MENU ::::

Thứ Năm, 29 tháng 5, 2025

Quy Nhơn

 Nằm bên bờ biển miền Trung, thành phố Quy Nhơn níu chân biết bao du khách bởi cảnh sắc tươi đẹp, con người nồng hậu và ẩm thực phong phú. Vì thế, Quy Nhơn là điểm hẹn lý tưởng cho hành trình nghỉ dưỡng, khám phá với những trải nghiệm đầy mới mẻ. Quy Nhơn là thành phố của tỉnh Bình Định, thuộc khu vực duyên hải Nam Trung Bộ của Việt Nam. Đô thị này cách Hà Nội khoảng 1.065 km và cách TP Hồ Chí Minh khoảng 650 km. Nằm e ấp bên dãy núi kỳ vĩ và trước mặt là biển cả mênh mông, thành phố Quy Nhơn sở hữu sức hấp dẫn đặc biệt với vẻ đẹp thiên nhiên thơ mộng.
Quy Nhơn

Địa hình và tài nguyên thiên nhiên
Thành phố Quy Nhơn sở hữu địa hình đa dạng với nhiều bãi biển tuyệt đẹp, núi cao như Núi Đen (cao 361m), rừng nguyên sinh tại đèo Cù Mông, các gò đồi xanh, ruộng muối, đầm lầy và hồ nước lớn. Hệ thống sông ngòi phong phú cùng các đảo và bán đảo ven biển cũng góp phần làm nên vẻ đẹp đặc trưng của nơi đây.

Nhờ đặc điểm tự nhiên phong phú, Quy Nhơn có nguồn tài nguyên sinh học đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngành như:

  • Nuôi trồng và khai thác thủy hải sản

  • Dịch vụ cảng biển

  • Du lịch và nghỉ dưỡng sinh thái

Khí hậu
Quy Nhơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt:

  • Mùa khô: Từ tháng 3 đến tháng 9

  • Mùa mưa: Từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau

Nhiệt độ trung bình năm khoảng 24,5ºC, thời tiết nhìn chung mát mẻ và dễ chịu quanh năm. Mùa mưa thường chỉ kéo dài khoảng 3 tháng cuối năm, nên bạn có thể du lịch Quy Nhơn vào bất kỳ thời điểm nào. Tuy nhiên, mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9 được xem là thời điểm lý tưởng nhất để tắm biển, tham quan, và tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên nắng vàng, biển xanh tại đây.

Quy Nhơn




 Huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) - quê hương của Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải, hòn đảo tiền tiêu có vị trí chiến lược quan trọng của đất nước. Đến với Lý Sơn là đến với một quần thể di tích thắng cảnh thiên nhiên và di sản văn hóa khá độc đáo, hiếm nơi nào ở nước ta có được.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa diễn ra tại đình làng An Vĩnh, thu hút hàng ngàn người dân và du khách

Nhiều hoạt động ý nghĩa

Sự phong phú về phong cảnh thiên nhiên và đa dạng về di sản lịch sử, văn hóa đã tạo nên một bản sắc Lý Sơn rất riêng. Đây là lợi thế lớn để phát triển du lịch sinh thái - một loại hình du lịch mới đang hút khách quốc tế. Đến Lý Sơn, du khách sẽ có dịp tìm hiểu rõ hơn về những di tích của đội Hoàng Sa. Đó là đình làng An Vĩnh - nơi ngày xưa đội hùng binh Hoàng Sa làm lễ tế thần trước khi xuất quân, miếu và đền thờ cai đội Phạm Quang Ảnh, dinh Ông Thắm thờ cai đội Võ Văn Khiết... Những di tích này đã góp phần khẳng định chủ quyền của Tổ quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa năm nay (ngày 05/5 tức 16/3 âm lịch) diễn ra tại đình làng An Vĩnh, thu hút hàng ngàn người dân và du khách. Sau phần lễ đã diễn ra Hội đua thuyền truyền thống Tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng). Anh Nguyễn Tình, du khách đến từ Đà Nẵng bày tỏ: “Tôi cảm nhận được sự trang nghiêm của Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa và tấm lòng của người dân đất đảo đối với tiền nhân. Tại Lễ khao lề, những vật phẩm tế lễ, thuyền lễ và những hình nhân gợi một thời chưa xa, tưởng nhớ những người đã nằm lại với biển khơi vì chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Tôi rất may mắn đến đảo vào dịp Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, tôi thấy rất ý nghĩa”.

Theo các tài liệu ghi chép lại, vào thế kỷ XVII, Hải đội hùng binh Hoàng Sa vâng lệnh triều đình vượt biển trên những chiếc thuyền để xác lập chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Hiện các tộc họ trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ tài liệu liên quan đến chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa đã được Bộ VHTTDL công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào năm 2013.

Những ngày này, hoạt động trưng bày “Di sản văn hóa biển, đảo” tại Nhà trưng bày Hải đội Hoàng Sa kiêm quản Bắc Hải đã thu hút hàng trăm du khách, học sinh và người dân Lý Sơn đến tham quan, tìm hiểu. Hơn 100 hình ảnh, tư liệu, hiện vật về tín ngưỡng, văn hóa, lễ hội truyền thống, về chủ quyền biển, đảo Việt Nam và đội hùng binh Hoàng Sa được trưng bày... Ngoài ra, còn giới thiệu 50 hình ảnh về chủ đề “Lý Sơn - Di sản văn hóa biển, đảo” với các hình ảnh về lễ hội, di sản, di tích, văn hóa, danh lam thắng cảnh và một số tranh về biển đảo Lý Sơn. Chị Cao Thị An, du khách đến từ TP Hà Nội rất thích thú chụp ảnh tư liệu và kỷ niệm cùng bạn bè bên các hiện vật, tư liệu được trưng bày. “Đây là lần đầu tiên mình đến Lý Sơn. Lý Sơn không chỉ là hòn đảo đẹp hoang sơ, mà còn là địa phương giàu truyền thống văn hóa. Đến Lý Sơn du lịch đợt này đúng vào dịp huyện tổ chức nhiều hoạt động trong chuỗi sự kiện văn hóa, thể thao, kích cầu du lịch nên mình rất thích thú”, chị An chia sẻ.

 Hồ nước ngọt trên núi Thới Lới

Thiên đường giữa biển khơi

Các chuyên gia nghiên cứu văn hóa nhận định, vùng biển, đảo Quảng Ngãi là “mảnh đất vàng” về di sản. Đảo Lý Sơn với diện tích chưa đầy 10 km2 nhưng có đến 50 di tích lịch sử, văn hóa. Nhà nghiên cứu văn hóa TS Nguyễn Đăng Vũ cho biết, những đợt phun trào núi lửa cách đây hàng triệu năm đã để lại cho đảo Lý Sơn 5 ngọn núi lửa đặc sắc. Trong đó, Giếng Tiền và Thới Lới còn hiện diện 2 lòng chảo khổng lồ. Đến Giếng Tiền, du khách được chiêm ngưỡng một “kiệt tác” do thiên nhiên ban tặng với hình thù giống như con rùa đang nghếch đầu về hướng đông bắc, mai rùa lõm xuống. Phần lõm còn một thảm thực vật đặc trưng, tựa như thảm thực vật tại lòng núi lửa ở tỉnh Jeju (Hàn Quốc) - một di sản thế giới. “Lý Sơn có nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều di chỉ khảo cổ, nhiều di tích kiến trúc, tín ngưỡng. Lý Sơn chính là di sản thế giới loại hình di sản hỗn hợp cả về thiên nhiên lẫn văn hóa”, TS Nguyễn Đăng Vũ khẳng định.

Ông Lê Văn Ninh, Phó Chủ tịch UBND huyện Lý Sơn thông tin, trải qua hàng trăm năm, Lý Sơn đã tích hợp và lưu giữ nhiều giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể cũng như lễ hội, phong tục tập quán lâu đời như: Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa, đua thuyền truyền thống tứ linh, lễ tế nữ thần thiên YANA, lễ cầu ngư… Cùng với đó là những giá trị đặc sắc về địa chất, địa mạo hiếm có. Hiện trên địa bàn huyện có 4 di tích cấp quốc gia, 2 di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và 19 di tích cấp tỉnh cùng hơn 50 đình, chùa, lân miếu gắn với đời sống sinh hoạt người dân trên đảo. Đây là nơi lưu giữ nhiều bằng chứng lịch sử liên quan đến chủ quyền biển đảo của Việt Nam… Lý Sơn thật sự là thiên đường giữa biển khơi, để du khách đến tham quan, nghỉ dưỡng. 

 Trong lịch sử, Vũng Tàu là một bán đảo, từ thời chúa Nguyễn và các vua Nguyễn sau này đều cho xây dựng các công trình quân sự quốc phòng và pháo đài ở nơi đây; trước kia vùng đất này là một bãi lầy, nơi thuyền buôn nước ngoài thường vào trú đậu nên gọi là Vũng Tàu. Vũng Tàu có địa mạo là một mũi đất nhô về biển ở phía nam, địa hình thành phố là một vùng đồng bằng liền kề dưới hai ngọn núi: Núi Lớn (hay còn gọi là núi Tương Kỳ) cao 245 mét và núi Nhỏ (hay còn gọi là núi Tao Phùng) cao 170 mét.

Nằm ở vị trí chiến lược quan trọng của miền Đông Nam bộ, nên trong quá khứ, Vũng Tàu có nhiều pháo đài phòng ngự do các vua Nguyễn và sau này là người Pháp xây dựng. Vũng Tàu cũng là miền đất giàu trầm tích văn hóa, với sự giao thoa Đông – Tây. Nơi đây còn nhiều di tích đền đình chùa miếu, nhà thờ công giáo như: Tượng Chúa Kito Vua trên Núi Nhỏ, được khởi dựng từ năm 1974 (khánh thành năm 1994), có chiều cao 32 mét, chiều dài hai cánh tay là 18,4 mét; đặt trên bệ khối chạm hình Chúa và 12 tông đồ; bên trong tượng là cầu thang xoắn ốc gồm 133 bậc, chạy từ bệ lên cổ tượng; Nhà thờ Vũng Tàu, nằm ở Trung tâm thành phố - một kiến trúc công giáo nhưng lại đậm nét Á Đông, được xây dựng từ năm 1940; Đình Thắng Tam, nơi ghi dấu ấn của những lưu dân người Việt thời xưa đi mở cõi. Trong khuôn viên đình Thắng Tam có lăng Ông Nam Hải chứa cốt và thờ phụng 180 cá Ông Nam Hải (cá voi); đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 1991; Bạch Dinh - một trong những công trình nổi tiếng nhất ở TP.Vũng Tàu, là một dinh thự kiến trúc kiểu châu Âu được xây cuối thế kỷ 19, nằm bên sườn Núi Lớn; từng được dùng làm nơi nghỉ mát cho Toàn quyền Đông Dương, Hoàng đế Bảo Đại, ngày nay Bạch Dinh là một địa điểm tham quan của du khách khi đến Vũng Tàu.

Thành phố Vũng Tàu có 16 phường và một xã. Xã duy nhất ở ngoại ô thành phố là xã đảo Long Sơn. Công trình kiến trúc - điểm đến nổi tiếng ở Long Sơn là Nhà Lớn, hay còn gọi là nhà thờ Đạo Ông Trần. Nhà Lớn do Ông Trần (tên thật là Lê Văn Mưu, người Hà Tiên, đến đảo Long Sơn khai hoang lập nghiệp khoảng năm 1900) cho khởi công xây dựng từ năm 1910 đến 1929 thì hoàn thành. Đây là một quần thể kiến trúc tín ngưỡng đặc sắc, đậm tính nhân văn và bản sắc Việt Nam.

Anh John Loo, du khách Singapore chia sẻ về những trải nghiệm tuyệt vời khi đến tham quan khu di tích Nhà Lớn Long Sơn: “Tôi cảm thấy đây là điểm đến thật tuyệt vời, giống như đất nước Singapore cổ trước kia của chúng tôi vậy. Tôi cảm nhận được sự cổ kính và một không gian mang tính cộng đồng rất cao. Và điều mà tôi đặc biệt ấn tượng là cách gìn giữ di tích nơi đây, mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn, vẫn giữ được nét cổ kính. Thật hạnh phúc khi được đến nơi này, một địa danh với những di tích rất đặc sắc.”

Vũng Tàu có 42km bờ biển, trong đó dài nhất và đẹp nhất là Bãi Sau, trải dài gần 10 km, nằm ở phía Nam thành phố, có tên gọi là Thùy Vân, là một trong những bãi biển đẹp nhất Việt Nam với những bãi cát trắng mịn, thẳng tắp; tiếp đến là Bãi Trước, còn được gọi là bãi Tầm Dương do nằm ở phía Tây, có thể ngắm mặt trời lặn trên biển; ngoài ra còn có Bãi Dứa, nơi biển len sâu vào bờ, tạo nên những ghềnh đá vươn dài ra biển, đồng thời tạo thành những vũng tắm kín đáo, thơ mộng; Bãi Dâu, một bãi biển kín gió với nhiều ghềnh đá kỳ thú, thơ mộng; hay Bãi Vọng Nguyệt, một bãi tắm còn hoang sơ nằm dưới chân Núi Nhỏ, ba bề là vách đá cheo leo hùng vĩ, dành cho những người thích khám phá, trải nghiệm… Nằm trong vùng năng động nhất về kinh tế của Việt Nam, nên Bà Rịa - Vũng Tàu nói chung và TP. Vũng Tàu nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc thu hút các nguồn khách du lịch. Số giờ nắng cao trong năm, nhiệt độ không khí khá ổn định, không có mùa đông và ít bão là các yếu tố tạo nên lợi thế cho TP. Vũng Tàu so với các địa phương ven biển miền Bắc và miền Trung trong phát triến du lịch.

Là một du khách từng thường xuyên đến Vũng Tàu nghỉ dưỡng, bà Nguyễn Thị Khánh đã quyết định rời TP. Hồ Chí Minh để về thành phố biển sinh sống sau khi về hưu, để có thể gắn bó lâu dài với vùng đất thiên thời - địa lợi - nhân hòa mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Hiện tại, bà Khánh sống cùng với con trai ở đường Lê Hồng Phong. Ở cái tuổi 79, sức khỏe đã yếu, việc đi lại cũng khó khăn, thế nhưng đều đặn mỗi ngày bà đều nhờ con đưa đến khu công viên Bãi Trước để ngắm biển và tận hưởng không khí trong lành.

Hơn 20 năm gắn với với nghề tài xế, đã từng đi từ Bắc chí Nam, ông Huỳnh Kim Khánh (phường Thắng Nhì, TP. Vũng Tàu) luôn có một cảm nhận: không đâu bằng thành phố biển Vũng Tàu: “Cảnh quan của TP.  Vũng Tàu tuyệt vời, trên cả tuyệt vời: Thứ nhất là an ninh vô cùng đảm bảo, thứ hai là môi trường sạch sẽ. Thứ ba là đường sá rộng lớn, giao thông an toàn. Thứ tư là cảnh quan môi trường, không khí thoáng mát, sạch sẽ… làm cho con người thấy vô cùng thư giãn.”

Trong nhiều năm qua, dịch vụ du lịch luôn được xác định là ngành kinh tế quan trọng, chiếm vị trí mũi nhọn trong cơ cấu phát triển của TP. Vũng Tàu. Tổng số lượt khách du lịch đến thành phố tăng bình quân 8,7%/năm. Doanh thu du lịch tăng bình quân 9,6%/năm. Thành phố Vũng Tàu hiện có 27 dự án đầu tư du lịch với tổng diện tích 631,46 ha; tổng vốn đăng ký đầu tư của 19 dự án có vốn trong nước là 10.212 tỷ đồng và 8 dự án có vốn đầu tư nước ngoài là 5,86 tỷ USD. Hiện nay, thành phố đang thu hút thêm nhiều dự án bất động sản về du lịch và đang kêu gọi đầu tư các dự án ở các khu “đất vàng” như: Paradise, Sài Gòn Atlantis, Sao Mai - Bến Đình, các dự án dọc Bãi Trước, Bãi Dứa…

Toàn thành phố Vũng Tàu hiện có khoảng 1.540 cơ sở lưu trú, với tổng số 13.668 phòng, trong đó có 135 cơ sở lưu trú đã được xếp hạng với tổng số 6.875 phòng, có 02 khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế 5 sao. Các cơ sở vật chất phục vụ hoạt động du lịch trên địa bàn đã cơ bản hiện đại. Thành phố hiện có khoảng 721 nhà hàng, quán ăn, chất lượng của các nhà hàng quán ăn về cơ sở vật chất, cung cách phục vụ ngày càng được chú trọng và nâng cao, đặc biệt là không ngừng sáng tạo các món ăn với nguyên vật liệu là thủy, hải sản. Món ăn nổi tiếng của Vũng Tàu là bánh khọt, đã được chứng nhận độc quyền nhãn hiệu và là một trong 12 món ăn Việt Nam được xác lập kỷ lục Châu Á.

 Với sự đầu tư bài bản về cơ sở hạ tầng, sự tham gia của các doanh nghiệp và cách làm du lịch năng động, mới mẻ của thế hệ trẻ, Khu du lịch Tam Đảo (Vĩnh Phúc) dần thoát bóng “mùa vụ”, đem đến cho du khách những sản phẩm du lịch hấp dẫn, tạo sự bứt phá thời gian gần đây. Đặc biệt, từ năm 2022 đến nay, thị trấn Tam Đảo 2 lần liên tiếp được World Travel Awards - tổ chức uy tín hàng đầu thế giới về du lịch vinh danh là thị trấn điểm đến hàng đầu thế giới.


Điểm check-in độc đáo tại Tiệm cà phê Nhiệt đới, thị trấn Tam Đảo

Khu du lịch Tam Đảo được phát hiện và xây dựng từ những năm đầu thế kỷ XIX, nằm trên dãy núi Tam Đảo, có độ cao 1.100m so với mực nước biển.

Nơi đây có phong cảnh núi non hùng vĩ, bao quát cả một vùng đồng bằng rộng lớn, nổi tiếng bởi khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, song trong một thời gian dài vẫn “ngủ im”, chậm phát triển, hiệu quả kinh tế đạt thấp.

Thêm vào đó, hạ tầng giao thông thiếu đồng bộ, hoạt động xúc tiến, liên doanh, liên kết, giới thiệu và thu hút đầu tư phát triển du lịch chưa hiệu quả.

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho lĩnh vực du lịch còn thiếu, chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ, chủ yếu vẫn là lao động theo mùa vụ.

Trong khi nhu cầu của du khách ngày càng cao, khiến du lịch Tam Đảo rất khó bắt kịp với xu hướng phát triển của ngành Du lịch hiện đại.

Để tạo động lực mới, những năm gần đây, tỉnh đã quan tâm, hỗ trợ bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện Tam Đảo để thực hiện đầu tư xây dựng hoàn thiện hạ tầng phục vụ phát triển du lịch.

Điểm nhấn là dự án Cải tạo, nâng cấp Quốc lộ 2B, đoạn từ cầu Chân Suối đi khu du lịch Tam Đảo 1 được khởi công từ năm 2016 với tổng mức đầu tư 375 tỷ đồng, gồm 1 tuyến chính và 2 tuyến nhánh, tổng chiều dài hơn 12 km. Dự án hoàn thành đã mở ra không gian phát triển cho du lịch thị trấn Tam Đảo.

Công trình Cầu cạn - biểu tượng mới về du lịch của thị trấn Tam Đảo trở thành điểm check-in tuyệt đẹp trong mắt du khách.

Từ năm 2022, tỉnh tiếp tục bổ sung có mục tiêu cho ngân sách huyện Tam Đảo với tổng mức đầu tư 1.545 tỷ đồng cho các dự án giao thông, hạ tầng điện, nước, cây xanh… tạo cảnh quan văn minh, hiện đại cho khu du lịch.

Có thể thấy, sự đầu tư bài bản về cơ sở hạ tầng đã tạo bàn đạp thúc đẩy các sản phẩm du lịch mới phát triển.

Đặc biệt là với cách làm du lịch chuyên nghiệp, sáng tạo từ các doanh nghiệp có tiềm lực về tài chính, trình độ quản lý và nhiệt huyết từ thế hệ trẻ, du lịch thị trấn Tam Đảo ngày càng đa dạng về hình thức và đi vào chiều sâu về mặt chất lượng dịch vụ.

Theo tuyến đường từ Cầu cạn xuống tổ dân phố 2, du khách dễ dàng bắt gặp nhiều khu nghỉ dưỡng, homestay, villa với thiết kế bắt mắt, tiện nghi và giá cả phù hợp với nhiều phân khúc khách du lịch, hấp dẫn với du khách quốc tế.


Dịch vụ du lịch nghỉ dưỡng 3 sao, 4 sao sẵn sàng phục vụ du khách tại khu du lịch Tam Đảo

Các điểm check-in theo xu hướng của giới trẻ nổi lên như một làn sóng mới, với không gian thơ mộng, ngắm mây trôi như chốn tiên cảnh tại Quán gió Tam Đảo, Rock cafe, tiệm cà phê Nhiệt đới… khiến du lịch thị trấn Tam Đảo ngày càng hấp dẫn du khách.

 Hồ Ba Bể là khu du lịch sinh thái nổi tiếng của vùng Đông Bắc Việt Nam với nhiều phong cảnh kỳ thú và đa dạng về sinh học. Đến với Hồ Ba Bể, du khách sẽ được đắm mình trong cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, được thưởng thức những món ăn truyền thống, được khám phá bản sắc văn hóa đặc sắc của đồng bào dân du tộc nơi đây…

Hồ Ba Bể nằm ở trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể, thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể

Hồ Ba Bể cách thành phố Bắc Kạn 70km về phía Tây Bắc, nằm ở trung tâm Vườn Quốc gia Ba Bể, thuộc xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể; phía Đông Bắc giáp xã Cao Trĩ và Khang Ninh; phía Đông Nam giáp xã Nam Cường và xã Đà Vị, huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Đây là một trong những hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Việt Nam. Năm 1995, Hồ Ba Bể đã được Hội nghị Hồ nước ngọt thế giới tổ chức tại Mỹ công nhận là một trong 20 hồ nước ngọt đặc biệt của thế giới cần được bảo vệ.

Hồ được hình thành cách đây khoảng 200 triệu năm về trước do một biến động địa chất lớn, làm sụt lún các dãy núi đá vôi tạo thành, được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi xen lẫn sa thạch cổ và các cánh rừng nguyên sinh. Địa chất và địa mạo của khu vực Hồ hết sức phức tạp dẫn đến sự tạo thành các phong cảnh đẹp ngoạn mục với cấu trúc địa chất và đất đai có một không hai, điều đó kéo theo sự hình thành của nhiều hệ sinh thái khác nhau. Qua khảo sát cho thấy sự pha trộn phức tạp của các hệ sinh thái Các-xtơ (hiện tượng phong hóa đặc trưng của những miền núi đá vôi bị nước chảy xói mòn) điển hình và hệ sinh thái phi Các-xtơ trong sự hài hòa với các hệ sinh thái sông hồ. Sự đa dạng về địa chất và sinh học như vậy khó có thể bắt gặp ở các nơi khác trên thế giới.

Địa chất và địa mạo của khu vực Hồ Ba Bể hết sức phức tạp tạo thành các phong cảnh đẹp ngoạn mục với cấu trúc địa chất và đất đai có một không hai

Hồ Ba Bể nằm ở cánh cung sông Gâm, địa hình gồ ghề và cắt xé bởi các ngọn núi cao từ 1.400m đến 1.600m và xen kẽ là các thung lũng. Hồ được nước của hai con sông chảy vào là sông Chợ Lèng và sông Nam Cường rồi chảy ra sông Năng, đổ xuống thác Đầu Đẳng. Hồ Ba Bể được hợp thành từ 03 hồ có tên là Pé Lèng, Pé Lù và Pé Lầm. Hồ có chiều dài hơn 08km, nơi rộng nhất là 02km, diện tích mặt nước khoảng 500ha, độ sâu trung bình 20m, có những nơi sâu đến 35m, có nhiều loài thủy vật và cá nước ngọt sinh sống, trong đó có nhiều loài đặc biệt quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam như cá Chép Kình, cá Rầm Xanh, cá Chiên… Nước Hồ Ba Bể trong xanh, quanh năm mát mẻ, toàn cảnh hồ như một bức tranh thủy mặc, in đậm bóng núi, lồng lộng mây trời, nhìn như một chiếc gương khổng lồ phản chiếu những dãi núi uốn lượn vùng cung ẩn hiện trên mặt nước. Trên mặt Hồ có nhiều đảo nhỏ xinh đẹp như Đảo Bà Góa, đảo An Mạ…

Du khách tham quan trên Hồ Ba Bể

Xung quanh Hồ là các bản nhà sàn của người Tày. Sau một ngày dạo chơi trên Hồ, du khách có thể dừng chân ở những nơi này để cùng cảm nhận cuộc sống ấm áp, đậm tình mến khách của bà con dân bản. Khi lựa chọn nghỉ ngơi trên những ngôi nhà sàn rộng rãi và thoáng mát, du khách sẽ được thưởng thức những món ăn truyền thống của người dân miền núi, nhấp chén rượu thơm mùi ngô nếp, hòa mình vào những khúc đàn tính, điệu then, câu sli, slượn, được nghe sự tích Hồ Ba Bể với truyền thuyết về Đảo Bà Góa, thuyền độc mộc…

Bản Pác Ngòi bên bờ Hồ Ba Bể

Hồ Ba Bể khoác trên mình sự hùng vĩ của núi rừng, và một nét duyên dáng, mềm mại với làn nước hòa quyện cùng trời đất, núi rừng bao quanh, lúc xanh rêu, lúc xanh lam, khi lại lẫn sắc vàng của bóng cây, khi lại sắc trắng của những đám mây… Nếu một lúc nào đó bạn cần chút bình yên, cần sự tĩnh lặng thì hãy tới Ba Bể. Nơi đó sẽ không làm bạn thất vọng. Ba Bể như một viên ngọc bích giữa núi đồi Đông Bắc, thật trong lành, tinh khiết và thanh tao./.

 Nhắc đến Cần Thơ, không thể không nhắc đến chợ nổi Cái Răng, một trong những nét văn hóa đặc trưng và độc đáo của miền Tây Nam Bộ. Với khung cảnh ghe thuyền tấp nập, những tiếng rao hàng vang vọng trên sông và các hoạt động buôn bán sôi nổi, chợ nổi Cái Răng đã trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút hàng triệu du khách trong và ngoài nước.

Chợ nổi Cái Răng, nằm tại thành phố Cần Thơ, là một trong những chợ nổi lớn nhất và nổi tiếng nhất khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Chợ nổi không chỉ là nơi giao thương buôn bán mà còn là biểu tượng văn hóa đặc trưng của miền Tây Nam Bộ. Với lịch sử hình thành lâu đời, chợ nổi Cái Răng mang trong mình dấu ấn văn hóa sông nước độc đáo, thu hút hàng ngàn du khách mỗi năm.

cho noi cai rang

Chợ nổi Cái Răng được hình thành vào khoảng đầu thế kỷ 20, khi giao thông đường bộ chưa phát triển và đường sông là phương tiện di chuyển chính của người dân miền Tây. Người dân sống ven sông thường sử dụng ghe, thuyền để vận chuyển hàng hóa, tạo nên hình thức giao thương trên sông. Qua thời gian, khu vực này dần phát triển thành chợ nổi – nơi tập trung buôn bán nông sản và các mặt hàng tiêu dùng.

Chợ nổi Cái Răng nổi bật bởi những đặc điểm độc đáo giúp nơi đây trở thành một biểu tượng văn hóa miền Tây:

  • Quy mô lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long: Chợ nổi Cái Răng là chợ nổi lớn nhất khu vực, với hàng trăm ghe thuyền tấp nập buôn bán mỗi ngày.

  • Hoạt động mua bán trên sông nước: Không giống như các chợ trên đất liền, mọi hoạt động giao thương tại chợ nổi đều diễn ra trên ghe, thuyền. Người bán và người mua giao dịch trực tiếp ngay trên sông, tạo nên khung cảnh náo nhiệt và độc đáo.

  • Nét văn hóa đặc trưng: Chợ nổi Cái Răng là nơi thể hiện rõ nhất nếp sống "thuận theo dòng nước" của người dân miền Tây. Những chiếc "cây bẹo" treo hàng hóa, tiếng rao vọng vang trên sông và vẻ đẹp bình dị của con người nơi đây đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng du khách.

cho noi cai rang 3
Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ

Chợ nổi Cái Răng Cần Thơ là nơi giao thương nhộn nhịp. @Shutterstock

Bến Ninh Kiều, nhà cổ Bình Thủy và vườn cây trái Mỹ Khánh cũng là những điểm tham quan thú vị khác. Cần Thơ còn nổi tiếng với các lễ hội dân gian và nét văn hóa đặc trưng của người dân miền Tây. Ẩm thực miền Tây tại Cần Thơ cũng rất phong phú với các món như bánh xèo, lẩu mắm, cá lóc nướng trui là những trải nghiệm không thể bỏ qua.

 Với cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, nhiều nét văn hóa độc đáo, con người thân thiện và mến khách, Khu du lịch Mộc Châu liên tục được vinh danh là “Điểm đến thiên nhiên khu vực hàng đầu thế giới”; năm 2024, được công nhận là Khu du lịch quốc gia. Những mốc son quan trọng đó, một lần nữa khẳng định vị thế, thương hiệu du lịch Mộc Châu trên bản đồ du lịch trong nước và quốc tế.

Mộc Châu được thiên nhiên ban cho hệ sinh thái đa dạng, vùng thảo nguyên cảnh quan đẹp với nhiều điểm danh thắng, như: Ngũ Động bản Ôn, thác Dải Yếm, đỉnh Pha Luông, rừng thông bản Áng, đồi chè, vườn đào, vườn mận, trang trại chăn nuôi bò sữa... là nguồn tài nguyên vô giá, tạo nên sức hút đối với du lịch của Mộc Châu.

Mộc Châu

Đồi chè trái tim tại thị trấn Nông trường Mộc Châu.

Phát huy tiềm năng, lợi thế, Mộc Châu tích cực thu hút đầu tư nhiều khu, điểm du lịch hấp dẫn, như: Rừng thông bản Áng, thác Dải Yếm, Happy land, phố đi bộ, chợ đêm Mộc Châu... Đặc biệt, Khu du lịch Mộc Châu Island tại xã Mường Sang là khu vui chơi hiện đại bậc nhất vùng Tây Bắc, với những trò chơi lần đầu tiên có tại Tây Bắc, Sơn La. Sau gần 2 năm triển khai, ngày 28/5/2022, điểm du lịch Mộc Châu Island chính thức đi vào hoạt động với sự kiện khởi đầu là khánh thành Cầu kính Bạch Long, được công nhận là cây cầu kính dài nhất thế giới, với độ dài 632 m.

Mộc Châu không chỉ có khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp, nơi đây còn là vùng đất sinh sống lâu đời của 12 dân tộc. Đến Mộc Châu, du khách được sống trong không gian văn hóa đa sắc của các dân tộc, tìm hiểu các giá trị văn hóa truyền thống, đặc trưng, tiêu biểu của từng dân tộc, từ nhà ở truyền thống, trang phục, ẩm thực, đến lễ hội, hoạt động văn hóa cộng đồng; được hòa mình vào điệu xòe Thái; nhảy tha kềnh, múa khèn của người Mông, múa chuông của người Dao; nghề thủ công, dệt thổ cẩm, mây tre đan của các dân tộc. Đây cũng chính là lợi thế để Mộc Châu phát triển du lịch cộng đồng.

Lễ hội Hết Chá bản Áng, xã Đông Sang, huyện Mộc Châu năm 2024.

Ấn tượng khi đến trải nghiệm du lịch cộng đồng tại bản Áng, xã Đông Sang, chị Nguyễn Kiều Trinh, du khách đến từ Hà Nội, chia sẻ: Ở đây không chỉ có khí hậu trong lành, mát mẻ, chúng tôi được trải nghiệm ở nhà sàn, nằm đệm bông gạo, thưởng thức những món đặc sản của đồng bào dân tộc, tham gia đêm giao lưu văn nghệ với men rượu cần ngọt ngào, tay trong tay, hòa mình vào những điệu múa xòe Thái vô cùng đặc sắc và ấn tượng.

Các vận động viên tham gia Giải chạy Marathon đường mòn Việt Nam năm 2024 tại huyện Mộc Châu.

Mộc Châu còn là vùng đất của các lễ hội được tổ chức xuyên suốt các mùa trong năm. Mùa xuân, cao nguyên náo nức với các Lễ hội hoa xuân, Hết Chá, Cầu mưa. Mùa hè, miền đất này bừng sáng trong màu xanh của những đồi chè, sắc đỏ của mùa mận chín, trong muôn màu của sắc hoa lan, cũng là lúc diễn ra Lễ hội hái quả... độc đáo và riêng có, thu hút nhân dân và du khách đến tham quan, trẩy hội. Bước sang mùa thu, Mộc Châu nô nức trong Ngày hội văn hóa các dân tộc, với các hoạt động văn hóa, văn nghệ đặc sắc, tôn vinh giá trị văn hóa các dân tộc trên địa bàn. Mùa đông, là lúc cả Mộc Châu được phủ trong sắc trắng tinh khôi của hoa cải, sắc vàng của hoa dã quỳ... tô điểm thêm cho các sự kiện văn hóa, thể thao được tổ chức tại các bản văn hóa, các điểm du lịch, danh lam thắng cảnh, mời gọi du khách tham quan, trải nghiệm. Trên miền thảo nguyên xanh này còn diễn ra một cuộc thi độc đáo, ấn tượng mà chỉ duy nhất Mộc Châu mới có - thi "Hoa hậu bò sữa”...


Đà Nẵng là một trong sáu thành phố trực thuộc trung ương của Việt Nam, nằm tại khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ. Đây là thành phố lớn nhất của miền Trung, giữ vai trò trung tâm chính trị, kinh tế – xã hội quan trọng của khu vực và là hạt nhân phát triển trong Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Hiện nay, Đà Nẵng là đô thị loại I, đồng thời là thành phố trung tâm cấp vùng và cấp quốc gia.

Về địa lý, Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, giữ vai trò chiến lược cả về kinh tế – xã hội lẫn quốc phòng – an ninh. Thành phố này được xem là cực tăng trưởng quốc gia và là trung tâm công nghiệp, tài chính, du lịch, dịch vụ, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học – công nghệ, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo của khu vực Miền Trung, Tây Nguyên cũng như cả nước. Ngoài ra, Đà Nẵng còn là nơi tổ chức nhiều sự kiện quan trọng mang tầm khu vực và quốc tế. Thành phố có vai trò là một đô thị biển và là đầu mối giao thông quan trọng với hệ thống kết nối đường bộ, đường sắt, đường biển và đường hàng không.

Trong những năm gần đây, Đà Nẵng đã tích cực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cải thiện chất lượng môi trường sống và nâng cao mức sống người dân. Nhờ những nỗ lực này, thành phố thường xuyên được đánh giá là một trong những nơi đáng sống nhất Việt Nam. Năm 2018, Đà Nẵng được tạp chí du lịch quốc tế chọn là một trong 10 địa điểm lý tưởng để sống ở nước ngoài.

Đà Nẵng

Đà Nẵng là một thành phố có nhiều tiềm năng phát triển du lịch, được xem là trung tâm du lịch và là cực tăng trưởng hàng đầu trong ngành du lịch của Việt Nam. Phía bắc thành phố được bao bọc bởi những dãy núi cao với đèo Hải Vân – nơi được mệnh danh là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan".

Phía tây là khu nghỉ dưỡng Sun World Bà Nà Hills, nằm ở độ cao hơn 1.400 mét so với mực nước biển, nổi bật với hệ thống 8 tuyến cáp treo có tổng công suất phục vụ khoảng 9.500 khách mỗi giờ. Trong đó, tuyến cáp treo Thác Tóc Tiên – Indochine đã lập bốn kỷ lục thế giới, bao gồm: cáp treo một dây dài nhất, có độ chênh giữa ga đi và ga đến lớn nhất, chiều dài một sợi cáp không nối dài nhất, và cuộn cáp nặng nhất. Khu nghỉ dưỡng này còn có khu vui chơi giải trí trong nhà Fantasy Park lớn nhất Đông Nam Á, làng Pháp lớn nhất Việt Nam, và có thể đón tiếp hơn 30.000 lượt khách mỗi ngày, những ngày cao điểm lên tới hơn 40.000 lượt khách.

Phía đông bắc của thành phố là bán đảo Sơn Trà với khoảng 400 ha rừng nguyên sinh, nơi sinh sống của nhiều loài động thực vật phong phú. Phía đông nam là danh thắng Ngũ Hành Sơn – quần thể núi đá vôi nổi tiếng gắn liền với nhiều giá trị tâm linh và văn hóa. Trên địa bàn thành phố còn có hệ thống đình, chùa, miếu theo phong cách kiến trúc Á Đông, cùng các nhà thờ mang phong cách phương Tây, tiêu biểu như Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng (thường gọi là Nhà thờ Con Gà). Thành phố cũng sở hữu nhiều bảo tàng, trong đó nổi bật nhất là Bảo tàng Nghệ thuật Điêu khắc Chăm – nơi trưng bày bộ sưu tập hiện vật Chăm quy mô nhất tại Việt Nam.

Đà Nẵng còn có lợi thế đặc biệt khi được bao quanh bởi ba Di sản Văn hóa Thế giới là Cố đô Huế, Phố cổ Hội An và Thánh địa Mỹ Sơn. Xa hơn một chút là Vườn Quốc gia Bạch Mã và Di sản Thiên nhiên Thế giới – Vườn Quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Nhờ vậy, Đà Nẵng được xem là điểm trung chuyển quan trọng trên "Con đường di sản miền Trung".

Năm 2019, tổng lượng khách tham quan và du lịch đến Đà Nẵng đạt khoảng 8,98 triệu lượt, trong đó có 3,52 triệu lượt khách quốc tế và 5,46 triệu lượt khách nội địa, tăng 22,5% so với năm trước đó. Tổng thu từ du lịch đạt hơn 30.971 tỷ đồng.


Đà Lạt là thành phố tỉnh lỵ trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Lâm Viên, thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam. Từ xa xưa, vùng đất này vốn là địa bàn cư trú của những cư dân người Lạch, người Chil và người Srê thuộc dân tộc Cơ Ho. Cuối thế kỷ 19, khi tìm kiếm một địa điểm để xây dựng trạm nghỉ dưỡng dành cho người Pháp ở Đông Dương, Toàn quyền Paul Doumer đã quyết định chọn cao nguyên Lâm Viên theo đề nghị của bác sĩ Alexandre Yersin, người từng thám hiểm tới nơi đây vào năm 1893. Trong nửa đầu thế kỷ 20, từ một địa điểm hoang vu, người Pháp đã quy hoạch và xây dựng lên một thành phố xinh đẹp với những biệt thự, công sở, khách sạn và trường học, trở thành một trung tâm du lịch và giáo dục của Đông Dương lúc bấy giờ. Trải qua các giai đoạn chiến tranh và khó khăn trong những thập niên 1970–1980, Đà Lạt ngày nay là một thành phố đông dân, đô thị loại I trực thuộc tỉnh, đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng và vùng Tây Nguyên.


Đà LạtĐà Lạt

Với độ cao khoảng 1.500 mét so với mực nước biển và được bao quanh bởi các dãy núi và rừng, Đà Lạt thừa hưởng khí hậu miền núi ôn hòa, dịu mát quanh năm. Thành phố còn lưu giữ một di sản kiến trúc phong phú, được ví như một bảo tàng kiến trúc châu Âu thế kỷ XX. Những tài nguyên thiên nhiên và nhân văn phong phú đã giúp Đà Lạt trở thành điểm du lịch nổi tiếng, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm. Đồng thời, Đà Lạt là trung tâm giáo dục và nghiên cứu khoa học, là nơi tập trung nhiều tôn giáo với hàng trăm ngôi chùa, nhà thờ, tu viện… và là vùng nông nghiệp đặc biệt với các sản phẩm rau và hoa. Nhờ những đặc điểm này, Đà Lạt được biết đến với nhiều tên gọi như “Thành phố mù sương”, “Thành phố ngàn thông”, “Thành phố ngàn hoa”, “Xứ hoa Anh Đào” hay “Tiểu Paris”.

Tên gọi Đà Lạt bắt nguồn từ chữ “Đạ Lạch”, là tên gọi của con suối Cam Ly, khởi nguồn từ huyện Lạc Dương và chảy qua khu vực Đà Lạt. Trong ngôn ngữ của người Cơ Ho, “Da” hay “Dak” có nghĩa là nước, nên Đà Lạt có nghĩa là “nước của người Lạt” hay “suối của người Lạt”. Thời kỳ đầu, tên địa phương như Dankia hay Lang Biang được nhắc đến nhiều hơn, mãi đến khi Đà Lạt trở thành điểm nghỉ dưỡng và chính thức được xây dựng thành phố, cái tên Đà Lạt mới dần phổ biến.

Về địa hình, Đà Lạt có hai dạng chủ yếu: núi và bình nguyên trên núi. Địa hình núi nằm xung quanh vùng cao nguyên trung tâm, các dãy núi cao khoảng 1.700 mét tạo thành vành đai chắn gió. Núi Langbiang nổi bật như một tường thành phía bắc, kéo dài từ suối Đạ Sar đến hồ Dankia, với hai đỉnh cao nhất đạt 2.167 mét và 2.064 mét. Án ngữ phía đông và đông nam là dãy Bi Doup và Cho Proline. Phía nam là khu vực đèo Prenn với địa hình núi thấp hơn và nhiều thung lũng sâu. Trung tâm Đà Lạt nằm trong một lòng chảo hình bầu dục dài khoảng 18 km và rộng 12 km, với những dãy đồi đỉnh tròn, sườn thoải dần về phía hồ Xuân Hương. Nơi cao nhất là dinh Nguyễn Hữu Hào với độ cao 1.532 mét, còn thấp nhất là thung lũng Nguyễn Tri Phương, 1.398 mét.

Trên địa phận thành phố, có hơn 20 dòng suối dài trên 4 km, thuộc hệ thống Cam Ly, Đa Tam và sông Đa Nhim – đều là những suối đầu nguồn của sông Đồng Nai. Hơn một nửa trong số đó chỉ chảy vào mùa mưa và cạn vào mùa khô. Suối Cam Ly là dòng suối lớn nhất, dài 64,1 km, bắt nguồn từ huyện Lạc Dương và đổ vào hồ Xuân Hương, góp phần tạo nên cảnh quan trung tâm thành phố. Đà Lạt còn nổi tiếng với các hồ và thác nước, có khoảng 16 hồ lớn nhỏ, phần lớn là hồ nhân tạo. Hồ Xuân Hương rộng khoảng 38 ha, được xây dựng từ năm 1919. Trước năm 1986, hồ này cùng hồ Chiến Thắng và hồ Than Thở là nguồn cung cấp nước chính, nhưng hiện nay nguồn nước sinh hoạt được lấy từ hồ Dankia cách thành phố khoảng 17 km.

Là một thành phố du lịch nổi tiếng của Việt Nam, Đà Lạt đón hàng triệu du khách mỗi năm. Từ năm 2001 đến 2009, số lượng khách sạn tại thành phố tăng từ 369 lên 673 cơ sở với hơn 11.000 phòng, tuy nhiên phần lớn là khách sạn nhỏ, gia đình và thiếu chuyên nghiệp. Chỉ có một số khách sạn đạt tiêu chuẩn 3 đến 5 sao, tập trung ở Phường 1 và Phường 2. Hiệu suất thuê phòng trung bình khoảng 30-35% và chủ yếu tập trung vào các kỳ nghỉ, lễ tết.

Di sản kiến trúc tại Đà Lạt bao gồm các công sở, trường học, nhà thờ, tu viện, chùa chiền và hàng ngàn biệt thự cổ kính. Một số dinh thự nổi tiếng như Dinh III vẫn còn được sử dụng làm điểm du lịch, trong khi Dinh II trở thành khách sạn và nơi hội họp, Dinh I hiện đang được sửa chữa. Biệt điện Trần Lệ Xuân trở thành Trung tâm Lưu trữ quốc gia IV, lưu giữ Mộc bản triều Nguyễn. Một số công trình gần đây như Thiền viện Trúc Lâm, biệt thự Hằng Nga hay XQ Sử quán cũng trở thành điểm du lịch nổi bật. Tuy nhiên, một số di tích như nhà ga Đà Lạt, Trường Cao đẳng Sư phạm hay khu lăng mộ Nguyễn Hữu Hào đang bị xuống cấp hoặc sử dụng sai mục đích.

Từ năm 2005, Đà Lạt bắt đầu tổ chức Festival Hoa – một lễ hội nghệ thuật nhằm tôn vinh các loài hoa địa phương và trong nước. Các kỳ Festival thường thu hút hàng trăm ngàn du khách. Đặc biệt, Festival năm 2010 là sự kiện mở màn cho chuỗi hoạt động mừng đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Trong các kỳ lễ hội gần đây, lượng khách đến Đà Lạt tiếp tục tăng, nhưng thời gian lưu trú trung bình chỉ khoảng 2 ngày, ngắn hơn so với các điểm đến như Bình Thuận. Đà Lạt cũng phải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh từ các thành phố du lịch biển như Nha Trang và Phan Thiết.


Thứ Tư, 28 tháng 5, 2025

 Nằm cách trung tâm thành phố Phan Thiết 22 km về hướng Đông Bắc, Mũi Né là một trong những điểm du lịch sinh thái đẹp và nổi tiếng nhất của tỉnh Bình Thuận.

Không chỉ hấp dẫn bởi vẻ đẹp hoang sơ, yên bình, nơi đây còn mang đến cho du khách những trải nghiệm vô cùng độc đáo với những bãi biển trải dài đầy nắng, là nơi lý tưởng để thư giãn, bỏ xa trốn thị thành đông đúc và náo nhiệt.

Tên gọi Mũi Né có nhiều nguồn gốc khác nhau. Dân gian tương truyền một sự tích về nàng công chúa Chuột mắc phải 1 chứng bệnh nan y, về sau xây dựng miếu Am để tu tại Hòn Rơm. Từ đó lấy biệt danh là bà Nà Né - lâu dần người dân đọc trại chữ Nà Né thành Mũi Né. Né là tên của công chúa Út - Mũi là mũi đất đưa ra biển. Ngoài ra còn có một cách lý giải khác xuất phát từ việc ngư dân đánh cá, mỗi khi đi biển gặp bão, thường đến đây nương náu. “Mũi” là cái mũi đất đưa ra biển, “Né” có nghĩa là để né tránh. Tên gọi Mũi Né xuất hiện từ đây, như một vùng đất hiền hòa, không có bão to sóng lớn, tạo cảm giác ấm áp và yên bình.

Nằm ẩn mình mình bên những bờ cát trắng trải dài, hòa mình cùng thiên nhiên đầy nắng và gió, Mũi Né hiện lên với vẻ dịu dàng và êm ả. Cùng với sóng biển rì rào và những dừa cong vút bao quanh, nét đẹp ấy lại càng trở nên ấn tượng và khó quên hơn bao giờ hết. Mũi Né đẹp nhất vào những tháng cuối năm. Tiết trời trong xanh, không khí yên lành, mát mẻ. Đây cũng là dịp thu hút đông đảo khách du lịch nhất trong năm.

Cùng với biển, nhắc đến Mũi Né, không thể không nhắc đến những đồi cát bay thơ mộng- một địa điểm kỳ thú có một không hai của Việt Nam mà Trung tâm sách kỷ lục đã ghi nhận. Tên gọi đó xuất phát từ hình dáng đặc biệt của đồi Cát - chúng thay đổi theo giờ, theo ngày, theo tháng và muôn hình vạn trạng. Do sự bào mòn của gió, lực đẩy của gió đã tạo nên vô số hình thù kì thú với nhiều màu sắc lấp lánh, trải dài như sa mạc hoang vu. Đứng giữa “thiên đường nắng - gió - cát”, du khách sẽ thưởng thức được toàn cảnh Mũi Né được bao phủ bởi môt màu xanh mênh mông của biển cả xen lẫn sắc vàng của cát dưới ánh mặt trời chói lọi. Tất cả tạo nên một bức tranh phong cảnh hữu tình, hoang sơ và thơ mộng làm cho du khách cảm giác như bay bổng giữa thiên nhiên và vẻ đẹp kỳ thú của những đồi cát trùng điệp mênh mông nối nhau xa tít tắp. Những cồn cát này là nguồn cảm hứng vô tận cho các họa sĩ, thi sĩ… và là khởi nguồn cho môn nghệ thuật tranh cát. Bên cạnh đó, nơi đây cũng là đề tài đã góp phần tạo ra nhiều thành công về các giải thưởng trong nước và quốc tế của các nhiếp ảnh gia.

Khi đến với Mũi Né, du khách còn được trải nghiệm những trò chơi vô cùng thú vị và bổ ích như: trượt cát, thi leo lên đồi cát. Ngoài ra, ghềnh đá Mũi Né cũng là một nơi mà du khách không nên bỏ qua. Nơi đây có nhiều mũi đá chồm ra biển đón sóng, cảnh vật rất đẹp và hùng vĩ. Xen kẽ giữa bãi đá dài hơn cây số là bãi cát nhỏ, phía trên đỉnh là miếu Bà Vàng, cuối bãi là Lăng ông Thạch Long thoáng mát, cảnh vật nên thơ.

Bên cạnh những cảnh đẹp nên thơ và bình dị, Mũi Né thu hút du khách bởi những đặc trưng ẩm thực vùng biển vô cùng hấp dẫn và phong phú. Từ những món hải sản được chế biến cầu kỳ như gói cá, răng mực... đến những món ăn dân dã như bánh canh, bánh xèo, mỳ quảng... đều mang những dư vị rất riêng, khiến cho bất kỳ ai đã từng được thưởng thức đều có những ấn tượng khó quên.

Trong nhiều năm gần đây, Mũi Né liên tục được các trang du lịch, truyền thông quốc tế xếp thứ hạng cao. Năm 2014, Mũi Né đứng thứ 2 trong top những bãi biển đẹp nhất khu vực Đông Nam Á do trang Canadiantraveller bình chọn. Mới đây nhất, địa danh này đã lọt trong danh sách 10 bãi biển ấn tượng của Châu Á Thái Bình Dương theo đánh giá từ Skyscanner.

Bởi vậy, không chỉ mang đến niềm tự hào cho Việt Nam, Mũi Né đã dần trở thành điểm du lịch rất hấp dẫn và được đánh giá là những nơi nhất định phải đến của du khách khi đến với Việt Nam. Hãy đến và cảm nhận những trải nghiệm tuyệt vời nơi thiên đường cát trắng!


 Côn Đảo là tên một quần đảo ngoài khơi thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, cách Vũng Tàu 97 hải lý và cách sông Hậu 45 hải lý. Côn Đảo hay Côn Sơn cũng hay dùng cho tên của hòn đảo lớn nhất trong quần đảo này. Sử Việt trước thế kỷ 20 thường gọi đảo Côn Sơn là đảo Côn Lôn hoặc Côn Nôn. Tên gọi cũ trong các văn bản tiếng Anh và tiếng Pháp là Poulo Condor.

Năm 1977, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quyết định tên gọi chính thức là Côn Đảo. Côn Đảo cũng là đơn vị hành chính cấp huyện của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

Côn Đảo có cùng một kinh độ với Thành phố Hồ Chí Minh (106°36′) và cùng một vĩ độ với tỉnh Cà Mau (8°36′).

Quần đảo Côn Đảo gồm 16 hòn đảo với tổng diện tích 76 km².

Tên Côn Đảo có nguồn gốc Mã Lai từ chữ "Pulau Kundur" nghĩa là "Hòn Bí". Người Âu Châu phiên âm là "Poulo Condor". Sử Việt thì gọi là "Đảo Côn Lôn" có thể cũng từ "Kundur" mà ra.

Riêng tên tiếng Miên của đảo là "Koh Tralach".

.

Côn Đảo, trong qúa khứ, từng được biết đến là một địa ngục trần gian, nơi ghi dấu ấn lịch sử của một thời kỳ đấu tranh của dân tộc vừa hào hùng vừa bi thương còn in dấu trên vùng đất này.

Côn Đảo ngày nay trở thành điểm du lịch lý tưởng cho những ai muốn kham phá vẻ đẹp hoang sơ và tìm hiểu lịch sử của đất nước Việt Nam. Nơi đây, bạn có thể lang thang để cảm nhận sâu sắc về quá khứ và khám phá thế giới đại dượng với dải san hô muôn màu cùng cánh rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phòng phú và hơn hết là để thoát ly cuộc sống ồn ào của đô thị

Từ một “địa ngục trần gian”, Côn Đảo nhanh chóng chuyển mình thành một trong những hòn đảo quyến rũ nhất hành tinh, có thể làm lạc bước chân mỗi du khách khi đặt chân đến hòn đảo xinh đẹp này.

Cùng với mỹ từ “top 10 hòn đảo quyến rũ nhất hành tinh” được bình chọn bởi tạp chí du lịch Lonely Planet, Côn Đảo cũng được nhắc đến là “một trong những hòn đảo bí ẩn nhất hành tinh” bởi tạp chí du lịch Travel and Leisure. Chính nhờ vẻ đẹp quyến rũ và sự bí ẩn vốn có, Côn Đảo đã thực sự trở thành một điểm đến đầy sức hút không chỉ với du khách trong nước mà còn đối với cả du khách quốc tế.